Được đầu tư bài bản, hạ tầng du lịch đang giúp nhiều địa phương cất cánh

Được đầu tư bài bản, hạ tầng du lịch đang giúp nhiều địa phương cất cánh

Chủ Nhật, 16/04/2017, 12:28


Tọa đàm “Hạ tầng du lịch, nền tảng cho du lịch Việt Nam cất cánh” diễn ra ngày 14/4 tại FLC Vĩnh Phúc Resort, với sự tham gia của các lãnh đạo, các chuyên gia kinh tế - bất động sản – du lịch đầu ngành.

Hội thảo có sự tham dự của ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam; ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội; ông Vũ Văn Thanh, Vụ trưởng vụ khách sạn Tổng cục Du lịch; ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Vụ trưởng vụ kinh tế dịch vụ Bộ Kế hoạch & Đầu tư; ông Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương; ông Lương Hoài Nam, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần hàng không lưỡng dụng Ngôi Sao Việt (Vietstar Airlines), Thành viên Hội đồng tư vấn du lịch thuộc Tổng cục Du lịch; ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; ông Lê Thành Vinh, Thành viên HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn FLC.

Chủ trì tọa đàm, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đánh giá Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là nghị quyết rất quan trọng để du lịch Việt Nam cất cánh.


Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, cần làm gì để đưa nghị quyết này vào cuộc sống là điều người dân và công chúng quan tâm trong bối cảnh ngân sách Việt Nam có hạn. Tọa đàm “Hạ tầng du lịch – nền tảng cho du lịch Việt Nam cất cánh” được tổ chức để làm rõ vấn đề này.
 
Ông Vũ Văn Thanh, Vụ trưởng Vụ Khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch: Đang có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

Để trở thành một ngành mũi nhọn thì cần phải đạt được nhiều tiêu chí, và một trong những tiêu chí quan trọng là tỷ lệ đóng góp của ngành đó trong tổng thu nhập quốc dân.

Về đóng góp của ngành du lịch, hiện nay có nhiều số liệu, tuy nhiên, chưa đạt 10% GDP. Nhân đây, tôi xin thông tin tình hình tăng trưởng khách du lịch trong những năm qua. Năm 2016, Việt Nam đón trên 10 triệu khách du lịch quốc tế, tăng gấp đôi so với năm 2010 là 5,1 triệu, tăng 25,9% so với 2015, dự báo trong 2017 là 12,5 triệu lượt, 2020 là 17 đến 20 triệu lượt.


Ông Vũ Văn Thanh, Vụ trưởng Vụ Khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch.

Lượt khách nội địa cũng tăng nhanh. Đóng góp của ngành du lịch vào GDP dự kiến đến năm 2020 là trên 10%; đạt 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch 20 tỷ USD, tạo ra 4 triệu việc làm.

Hiện đang có nhiều điều kiện thuận lợi tích tụ, đặc biệt là Đảng và Nhà nước quan tâm, có chính sách đầu tư cho hạ tầng, visa, môi trường kinh doanh du lịch thông qua một số chỉ thị và nghị quyết, mới nhất là Nghị quyết 08.

Sau khi Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ban hành, Bộ trưởng Bộ Văn hoá đã chỉ đạo Tổng cục Du lịch và các đơn vị chức năng xây dựng chương trình hành động thực hiện. Có hai chương trình là của Chính phủ và của Bộ. Chương trình của Chính phủ đã tập hợp ý kiến bộ ngành địa phương và trình lên Thủ tướng. Chúng tôi cũng soạn sẵn một chương trình mà sau khi chương trình hành động Chính phủ thông qua thì sẽ tiến hành luôn.

Ông Lương Hoài Nam, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Hàng không lưỡng dụng Ngôi Sao Việt (Vietstar Airlines): Tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư nếu Nhà nước có cơ chế chính sách hợp lí

Cách đây 2 năm, một lãnh đạo cấp cao hỏi tôi rằng ngành nào là ngành kinh tế mũi nhọn, tôi trả lời là du lịch. Người Việt Nam chưa có cơ hội thành công với công nghiệp và công nghệ. Chúng ta muốn đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển, nhưng đến nay chúng ta đã rút lại mục tiêu đó rồi, bởi có 15/20 chỉ tiêu không đạt được. Về nông nghiệp, với phương thức sản xuất dựa trên hộ gia đình thì năng suất cũng không khả quan, khả năng bứt phá về nông nghiệp rất khó.

Trong bối cảnh này, lựa chọn du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn theo tôi là chính xác bởi đây là ngành không tiêu tốn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và đúng về năng lực con người (người dân Việt Nam có khả năng làm du lịch tốt).

Vấn đề là chúng ta cần phải lựa chọn phát triển du lịch theo hướng nào để từ đó xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp. Tôi cho rằng chúng ta không nên phát triển du lịch theo hướng bình dân hóa, xô bồ như Thái Lan, mà cần phát triển ở phân khúc cao cấp và bền vững hơn. Tuy không đón được nhiều khách, nhưng vẫn có được doanh thu tốt mà không tiêu tốn tài nguyên. Tuy vậy, đến bây giờ tôi nghi ngờ chúng ta có khả năng phát triển phân khúc đó.


Ông Lương Hoài Nam, Phó tổng giám đốc Vietstar Airlines.

Cách đây 2 năm chúng tôi sang Mỹ gặp một triệu phú để đến chào mời du lịch. Ông ấy nói tôi thuyết trình rất hay, nhưng hỏi ngược lại: “Vấn đề là tại sao tôi phải đi du lịch ở một nước như Việt Nam khi mà tôi phải làm visa?”. Do đó, tôi nghĩ Việt Nam nên đi theo phân khúc trung và cao cấp, nhưng liệu chúng ta có đáp ứng được phân khúc đó không, vì vậy, hạ tầng phải đi theo định hướng.

Về vấn đề hàng không, là người làm trong ngành hàng không, tôi cho rằng hàng không cực kỳ ảnh hưởng tới du lịch. Tôi ủng hộ tự do hoá, phi điều kiện hoá hàng không. Vừa rồi tôi đã lên tiếng phản đối việc đề xuất áp giá sàn vé máy bay nội địa.

Nếu áp giá sàn đối với vận tải hàng không thì sẽ ảnh hưởng tới ngành du lịch. Bộ Giao thông vận tải sau đó đã có quan điểm là không áp giá sàn, ai muốn giảm giá, bán vé máy bay rẻ bao nhiêu thì tuỳ.

Gần đây có một cách làm rất hay của các địa phương. Khi các hãng hàng không tỏ ra thiếu tự tin khi mở đường bay trong nước do sợ lỗ, một số địa phương như Quảng Bình, Thanh Hóa... tuyên bố sẵn sàng tài trợ trong thời gian đầu để khuyến khích các hãng mở đường bay. Nếu các địa phương có quan điểm đó thì đường không nội địa sẽ rất phát triển.

Trong mảng sân bay, cảng biển, tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư nếu Nhà nước có cơ chế chính sách hợp lí. Vấn đề là nhà nước có quy hoạch cho người ta làm hay không, có tạo thuận lợi cho người ta làm hay không. Nhà nước cần quy hoạch nhiều sân bay để mở ra cơ hội đầu tư, hiện Việt Nam mới có 21 sân bay trong khi Thái Lan có 48, Philippines có tới 70 sân bay, dù hai nước họ nhỏ hơn Việt Nam.



Tôi không quên được kỉ niệm cách đây vài chục năm. Nhà tôi bị ngập lụt lớn, khi đó, Chủ tịch tỉnh Bình Định đã cắp nách giày, xắn quần tìm đến nhà tôi và nhờ: Tìm cách mở đường bay từ Quy Nhơn đến Đà Nẵng. Ước mơ lúc đó đơn giản vậy thôi. Còn bây giờ đã có đường bay từ Quy Nhơn đến Hà Nội rồi, và trong tương lai sẽ có đường bay nối đến các nước khác.

Chúng ta cần có cách tiếp cận khác đối với hạ tầng hàng không, cần đa dạng hóa đầu tư vào hạ tầng hàng không, ít nhất là nhà ga, để làm sao tư nhân đầu tư vào đó.

Tôi nghĩ những tập đoàn lớn như FLC thừa sức làm điều này nếu nhà nước có cơ chế, chính sách cho điều đó.

Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội: FLC Quy Nhơn là một trường hợp thú vị về phát triển du lịch và phát triển hạ tầng liên quan đến du lịch

Theo quan sát của tôi, trường hợp của FLC Quy Nhơn là một trường hợp thú vị về phát triển du lịch và phát triển hạ tầng liên quan đến du lịch. Trước đó FLC định phát triển khu công nghiệp. Tuy nhiên, Bình Định sau đó quyết định không phát triển công nghiệp nữa nên FLC làm hạ tầng nghỉ dưỡng và đây là một quyết định cực kỳ hợp lý. Nó dẫn đến sự tăng trưởng mạnh về du lịch cho Bình Định, đến mức nhà ga hay sân bay ở Bình Định quá nhỏ, không thể đáp ứng được nhu cầu và Bộ giao thông phải chủ trương mở rộng các hạ tầng này. Đây là một xu hướng tác động rất thú vị.

Về vấn đề hàng không, tôi đã tham gia vào việc xây dựng nhiều văn bản hàng không và gần đây có giúp Ủy ban Kinh tế chủ trì thẩm định dự án Sân bay Quốc tế Long Thành.  Gần đây tôi thấy có quan điểm đổi mới về đầu tư vào hàng không. Trước đây, ngành hàng không thuộc về Quân đội, nhưng gần đây đã chuyển giao dần sang cho nhiều công ty dân sự và tư nhân.


Ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội.

Hiện nay chỉ quy định Công ty Quản lý bay (kiểm soát không lưu) do Nhà nước nắm 100% vốn. Ngành vận tải đã cổ phần hóa, như Vietnam Airlines, nhưng Nhà nước vẫn nắm chi phối. Còn tư nhân đã bắt đầu đầu tư vào hạ tầng rồi, như đường lăn, nhà ga.

Điều Nhà nước bây giờ quan tâm là đường băng và đường lăn. Tư nhân chưa mặn mà đến những cái này do không có lợi nhuận. Tư nhân họ quan tâm đến nhà ga, vận tải…  
Tôi đã tham gia nghị quyết Quốc hội về chủ trương xây dựng dự án sân bay Long Thành, trong đó có rất nhiều nguồn vốn, tất cả đều được ghi rõ hình thức đầu tư như thế nào. Nghị quyết cũng định hướng chỉ một phần vốn Nhà nước thôi, còn lại rất nguồn vốn khác nhau.

Ông Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương: Tôi tin tưởng và lạc quan về Nghị quyết 08

Đặc trưng của ngành kinh tế mũi nhọn theo tôi phải bền vững, có tương lai và bảo vệ môi trường. Nền kinh tế mũi nhọn phải có tốc độ tăng trưởng trên mức trung bình, nếu tăng trưởng thấp thì không giải quyết được gì. Ngành mũi nhọn phải tạo thêm nhiều việc làm. Trong thời kì hội nhập, ngành mũi nhọn phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thu hút sự chú ý của nước ngoài. Tiềm năng của du lịch Việt Nam cần được tận dụng tốt hơn.


Ông Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương.

Chúng ta thường bàn về hạ tầng cứng, nhưng chúng ta cũng cần có cả “hạ tầng mềm”. Đó là cách ứng xử, khung pháp luật, dịch vụ phục vụ khách. Tôi thấy gần đây có những tín hiệu đáng mừng đó, ví dụ là sự phát triển của dịch vụ homestay – tức là ở nhà dân, dịch vụ này rất hấp dẫn. Tôi có những người bạn quốc tế và họ nói dịch vụ này ở Việt Nam rất thú vị, tôi cho rằng đây là một hướng đi tốt, cần phát triển cả phần cứng và phần mềm, vừa giúp đóng góp về kinh tế, vừa giới thiệu văn minh và dân tộc Việt Nam đến với khách quốc tế.

Một số nghị quyết của Bộ Chính trị có “số phận” không được may mắn lắm. Nhưng tôi tin tưởng và lạc quan về nghị quyết 08, bởi tôi nghĩ ngành du lịch có tiềm năng, nếu chỉ đạo tốt thì chúng ta có thể phát huy các tiềm năng này.

Chúng ta phải tận dụng hết các nguồn khách du lịch. Ví dụ với khách du lịch từ Trung Quốc, nhóm này gặp nhiều tai tiếng vì cách cư xử thiếu văn hóa, tuy nhiên chúng ta phải tìm cách khắc phục, chứ không thể cấm. Ngoài ra, số người cao tuổi ở Nhật Bản rất lớn, đây là một nguồn khách du lịch tiềm năng. Chúng ta có thể kéo họ đến đây nghỉ ngơi, chữa bệnh.

Ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam: Những tập đoàn như FLC đã khiến du lịch địa phương cất cánh nhờ nâng cấp hạ tầng du lịch

Trong bối cảnh tăng trưởng GDP quý I chỉ đạt 5,1% - mức tăng thấp và đáng lo ngại, du lịch đang là một điểm sáng nổi bật. Quý I Việt Nam đã đón 3,3 triệu khách du lịch, nên mục tiêu đón trên 10 triệu khách quốc tế và mức tăng trưởng 25-30% trong năm nay là trong tầm tay.

Về cơ sở hạ tầng như resort, khách sạn, chúng ta đang bước đầu có những cơ sở hạ tầng tốt để phục vụ du lịch. Lấy ví dụ như Bình Định, trước khi Tập đoàn FLC vào thì Bình Định chưa có cơ sở lưu trú cao cấp, nhưng nay đã có. Và các tỉnh khác như Thanh Hoá, Phú Quốc...cũng tương tự. Những phức hợp du lịch lớn mà FLC, Vingroup làm có thể kéo cả tỉnh như Bình Định trở nên nổi tiếng.


Ông Nguyễn Trần Nam, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam.

Nhưng có một điều liên quan đến các chuyến bay đến tỉnh. Hầu như mỗi hãng chỉ có một hai chuyến, mà giờ giấc lại khó khăn. Ví dụ chuyến bay Quy Nhơn bay 7 giờ, thì phải dậy từ 4 5 giờ để chuẩn bị. Giờ bay không hợp lý cũng dẫn đến mất khách. Thứ hai là tần suất bay. Hiệp hội chúng tôi tổ chức một hội nghị ở Bình Định 300 khách ngay lập tức xảy ra tắc nghẽn, phải xin thêm chuyến.

Tôi nghĩ hạ tầng còn rất thiếu nên phải tiếp tục quy hoạch. Tôi biết khu FLC Quy Nhơn có rất nhiều doanh nghiệp đang muốn phát triển “ăn theo” sự phát triển của FLC, nhưng đó cũng là điều tốt cho tất cả, vì buôn có bạn, bán có phường.

Tôi từng đi dự hội nghị của FLC ở Thanh Hóa, ông Trịnh Văn Quyết tuyên bố sẽ làm dự án ở Sầm Sơn trong 12 tháng. Tôi lo lắm, nếu không làm được thì sẽ rất mất mặt với các quan khách, có cả các vị ở Bộ Chính trị. Nhưng sau đó FLC đã hoàn thành dự án đó trong 11 tháng. Rồi dự án ở Quy Nhơn với quy mô lớn như vậy cũng được triển khai trong vòng gần một năm. Đó là những câu chuyện rất đáng mừng về việc triển khai hạ tầng du lịch ở nước ta.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Dịch vụ - Bộ Kế hoạch & Đầu tư: Nguồn vốn nhà nước ngày càng hạn hẹp, hình thức đối tác công tư (PPP) sẽ là nguồn vốn chủ lực để phát triển hạ tầng du lịch

Về nguồn vốn, hiện nay đã có nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu cho ngành du lịch, đã được triển khai từ năm 2000 nhưng quy mô không lớn lắm. Năm 2015, nguồn vốn cho ngành du lịch đạt trên 3.500 tỷ đồng được phân cho 50 địa phương. Có thể nói nguồn vốn này chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các địa phương. Nhu cầu hàng năm lên tới 3-5.000 tỷ nhưng thực tế chỉ đáp ứng được 25-30% thôi.

Tuy nhiên, số vốn này cũng giúp nâng cấp phần nào hệ thống hạ tầng, qua đó thu hút được khách du lịch, tạo nguồn thu và tạo việc làm cho người dân địa phương. Các nguồn vốn chủ yếu được hỗ trợ cho nơi khó khăn như miền Trung, Tây Nguyên.


Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế dịch vụ - Bộ Kế hoạch & Đầu tư.

Từ năm 2020, vốn cho hạ tầng du lịch sẽ ngày càng ít đi. Nếu chỉ trông chờ nguồn vốn nhà nước thì rất hạn hẹp, trong khi đó, thực tế một số địa phương khó khăn về ngân sách nhưng nhiều khi còn ỷ lại, chưa năng động để thu hút vốn khác.

Tôi thấy vẫn còn hạn chế trong việc thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch ở các địa phương. Thứ nhất, một số địa phương chưa xác định du lịch là ngành mũi nhọn. Thứ hai, sự hạn chế trong phối hợp, công tác quy hoạch ở các địa phương chậm và chưa và đồng bộ. Thứ ba, cơ chế chính sách còn chung chung, chưa hấp dẫn đầu tư và hạ tầng du lịch. Thứ tư, các địa phương chưa phát hành được nhiều trái phiếu cho phát triển du lịch. Thứ năm, quản lý của một số địa phương chưa tốt.

Trong bối cảnh ngân sách cho phát triển hạ tầng du lịch hạn chế, tôi cho rằng hình thức đối tác công tư (PPP) sẽ là nguồn vốn chủ lực để phát triển hạ tầng du lịch. Nghị định 15/2015 của Chính phủ có đề ra ưu tiên cho phát triển hạ tầng, nên các địa phương có thể bám sát vào đó để huy động vốn phát triển hạ tầng.

Nguồn vốn thứ hai để phát triển hạ tầng là ODA, nhưng đến nay chưa có nhiều địa phương sử dụng hình thức này. Thứ ba là vốn thông qua phát hành trái phiếu của địa phương.

Ngoài ra còn một kênh hỗ trợ nữa là nguồn vốn từ các ngân hàng. Hiện nay tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 14-15%/năm, các địa phương cần tạo điều kiện ngân hàng hoạt động tốt tại địa phương của mình, cũng cần tạo điều kiện tín dụng trong xử lý tranh chấp, phát mại tài sản...

Nhà nước cũng có nguồn vốn phát triển hạ tầng, nhưng càng ngày càng hạn chế. Do đó những kênh như tôi vừa đề cập sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng.

Ông Lê Thành Vinh, Tổng giám đốc Tập đoàn FLC: FLC sẵn sàng sát cánh cùng địa phương để nâng cấp hạ tầng du lịch

Đầu tiên, FLC sẵn sàng sát cánh cùng địa phương để nâng cấp hạ tầng du lịch. Chúng tôi đầu tư những quần thể rất lớn tại nhiều địa điểm như Thanh Hoá, Bình Định, nhưng hạ tầng như hệ thống sân bay chưa đáp ứng được nhu cầu. FLC đang nỗ lực góp phần cải thiện hạ tầng tại những địa phương mà mình đầu tư. Chúng tôi đã ký với Vietjet Air để mở một đường bay từ Thanh Hoá đến Quy Nhơn hay thực hiện các dự án BOT (xây dựng - kinh doanh - chuyển giao).

Ví dụ như dự án cải tạo, nâng cấp đường Hồ Xuân Hương ở Thanh Hoá. Ban đầu FLC cũng đề xuất là sẽ tài trợ cho tỉnh thực hiện dự án, nhằm dẹp bỏ khả năng xảy ra nạn chặt chém, tạo cơ hội để phát triển bài bản, đồng bộ. Sau đó, lãnh đạo Tỉnh đã quyết định xây dựng dự án này theo hình thức BOT.


Ông Lê Thành Vinh, Tổng giám đốc Tập đoàn FLC.


Cái được đã rõ rồi, hạ tầng từ Thanh Hóa đến Sầm Sơn phát triển vượt bậc, hiệu ứng rất cao. Khách đến Sầm Sơn bây giờ được nghỉ ở rất nhiều khách sạn mới, không còn cạnh tranh từ bên ngoài do sự lộn xộn đã được dọn dẹp. Một số địa phương như Quảng Ninh cảm thấy bất ngờ trước việc Thanh Hóa đã thu hút rất nhiều khách du lịch trong thời gian qua.

Hiện nay, FLC khai thác một khách sạn trên 1.000 phòng tại Sầm Sơn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và luôn trong tình trạng “cháy phòng”. Mùa du lịch năm nay, chúng tôi đưa vào sử dụng thêm một khách sạn 15 tầng, với gần 600 phòng nữa, đơn giản vì nhu cầu du khách đang tăng mạnh.

Ngoài ra, chúng tôi còn có các dự án BOT tại Khánh Hoà, Bình Định. Mặc dù chưa chính thức hoàn toàn nhưng chúng tôi sẽ xây một phần đường từ sân bay về thành phố, giúp lộ trình về thành phố và dự án của FLC thuận lợi hơn. Chúng tôi chưa tính toán có thu được tiền ngay không nhưng chúng tôi nhìn thấy cơ hội thì làm.

Thứ hai, nói về câu chuyện quyết định đầu tư, nhiều người làm du lịch thường quan tâm xem địa điểm đó đã là điểm đến du lịch chưa. Khi FLC đầu tư vào Hạ Long, không nhiều người đặt câu hỏi vì đây vốn đã là điểm đến. Sầm Sơn và Quy Nhơn thì khác, đây là những điểm chưa được khai thác nhiều.

Khi xem xét đầu tư vào địa điểm nào, chúng tôi đánh giá ba yếu tố: một là địa phương có tiềm năng hay không, cả ngắn và dài hạn; hai là tư duy về du lịch của con người và ba là bộ máy chính quyền địa phương.

Trong đó, bộ máy chính quyền chính là yếu tố quan trọng hàng đầu, hệ thống chính quyền phải cho nhà đầu tư thấy họ có tư duy đúng về du lịch, đặt du lịch vào trọng tâm phát triển, cho thấy tầm nhìn, mục tiêu phát triển du lịch rõ ràng. Bên cạnh đó phải có sự đoàn kết, ổn định trong chính quyền, họ phải có quyết tâm rất cao thực hiện cùng doanh nghiệp, ví dụ như tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong vấn đề hạ tầng giao thông.


Diện mạo du lịch Sầm Sơn.

Thứ ba, vấn đề bảo hộ đầu tư. Chúng tôi bỏ nhiều tiền, 5.000 - 7.000 tỷ ở Thanh Hóa, Quy Nhơn, nếu không bảo hộ thì chúng tôi không đầu tư được. Doanh nghiệp bỏ hàng nghìn tỷ rồi thì Nhà nước cũng phải tạo cơ chế chứ, nếu Nhà nước không làm được thì cho tư nhân làm. Nếu địa phương không đồng hành thì doanh nghiệp không bao giờ làm được. Đó là mong muốn của FLC.

Doanh nghiệp sẽ rất bị ảnh hưởng nếu hạ tầng không theo kịp. Các tỉnh nên lưu ý về bài toán công suất. Điều này rất quan trọng. Ví dụ như ở Bình Định, lúc đầu họ tính toán chỉ thu hút 1,5 triệu khách du lịch, do đó sử dụng nhà ga là đủ. Sau đó, họ không ngờ khi sau khi FLC vào thì kéo theo rất nhiều lượt khách du lịch, tỉnh phải tính toán lại lên mức mục tiêu 2,5 triệu lượt khách.

Về vấn đề cho phép kinh doanh casino đang rất được quan tâm hiện nay, ông Nguyễn Văn Phúc nhận định: "Casino thuộc kinh tế dịch vụ tài chính, tôi thấy trước đây casino đi từ thí điểm, đầu tiên có ở Đồ Sơn, rồi ở Móng Cái hầu như đều cho người nước ngoài, bây giờ Chính phủ đã ban hành nghị định với những điều kiện để đầu tư. Tôi cho rằng điều đó là đúng hướng, bởi trong điều kiện này kể cả không cho người dân đánh bạc thì người ta cũng đi ra nước ngoài để đánh. Bộ Chính trị có chủ trương và vừa rồi có quy định các trò chơi có thưởng trong đó có quy định đua chó, đua ngựa, tuy nhiên, các quy định này ban hành còn khá chậm".

Trong khi đó, ông Lương Hoài Nam cho rằng chúng ta không cho người Việt vào casino ở Việt Nam thì họ lại vác tiền sang Campuchia, Macao… để đánh bạc. Giờ một vé máy bay trăm USD sang Singapore chơi bạc không là gì cả, chi phí vé ô tô qua biên giới Tây Ninh thì còn rẻ hơn nữa. Do đó, chủ trương phát triển casino là xuất phát từ thực tế và rất hợp lý khi nhà nước đang khuyến khích xây dựng các quần thể du lịch lớn, đồng bộ, nhiều tiện ích nhằm thúc đẩy du lịch tại Việt Nam.


 

FLC News

Copyright © 2013 FLC Group All right reserved